Cổng tri thức OpenEdu

Điều khiển tâm trí của bạn

Katherine Ellison

BVBD18026-Mastering-Your-Own-Mind-1-.jpg

(Nguồn: Unsplash)


Bị phân tâm? Giận dữ? Ghen tị? Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy sự chú ý, cách điều khiển cảm xúc - kể cả trong tình yêu - là những kỹ năng hoàn toàn có thể học được thông qua việc thực hành thiền định. Có lẽ đã đến lúc bạn có thể trở thành người biết cách sử dụng bộ não của mình với hiệu suất cao.

Khi con trai tôi 8 tuổi, cậu đã gọi 911 sau khi tôi lấy đi bộ đồ chơi Game Boy của cậu ấy. Tôi ước tôi đã học về Phật giáo vào lúc đó, vì có lẽ tôi đã có thể xử lý tình huống ấy tốt hơn rất nhiều. Tôi nghĩ rằng mình sẽ không hét vào mặt cậu trong khi nhân viên điều tra vẫn đang lắng nghe. Và tôi cá là mình sẽ không cảm thấy quá sợ hãi khi cảnh sát tra hỏi chúng tôi trong những căn phòng riêng của ngôi nhà - ít nhất là cho đến khi tôi nghe lỏm viên sĩ quan kia hỏi, "Mẹ đã lấy đi cái gì của cháu?"

Quan trọng nhất, tôi biết tôi sẽ tha thứ cho con trai mình nhanh hơn rất nhiều, và toàn bộ sự việc đó sẽ không khiến cho mọi người cảm thấy đau lòng như vậy. Tôi thậm chí có thể đã nhìn con mình với lòng trắc ẩn.

Sau này nhìn lại, tôi nhận ra rằng mình đã chưa tối ưu hóa khả năng tâm trí của bản thân. Rất nhiều người cũng vậy. Sự chú ý thoáng qua, sự thiếu kiến nhẫn và - nỗi sợ, ác ý, sự thèm muốn và những niềm đam mê khắc sâu bên trong - thúc đẩy chúng ta hành động một cách rất vội vàng.

Ngược lại, các nhà thiền giả Phật giáo đã phát triển bộ não của họ với những kỹ năng đặc biệt. Trong suốt 2,500 năm với các kỹ thuật về việc chú ý có chủ đích đến các hoạt động về ý thức - họ đã phát triển chuyên môn sâu trong việc kiếm soát dòng chảy của đời sống tinh thần, tránh những cảm xúc thất thường khiến chúng ta phải để tâm, kiểu như quá tập trung vào cá nhân và làm sạch những con đường mới cho sự nhận thức, bình tĩnh, lòng từ bi và niềm vui. Ví dụ của họ cho thấy chúng ta có thể điều chỉnh tâm trạng bản thân, thường là những cảm xúc và tăng khả năng nhận thức - rằng chúng ta có thể trở thành những người biết cách sử dụng và tối ưu hóa não bộ của mình.

B. Alan Wallace, người sáng lập và cũng là chủ tịch của Viện nghiên cứu ý thức Santa Barbara nói rằng: “Những gì chúng ta đang nói là nước đi lâu dài để nuôi dưỡng trái tim và tâm trí nhằm phát huy những lợi ích của tâm trí con người”. Là một học giả Phật Giáo, người nghiên cứu mối liên hệ giữa khoa học và tôn giáo, ông ấy tin rằng phần lớn con người chịu đựng chính là nhân quả của những gì họ đang làm. Cảm xúc của chúng ta thường xoay quanh cảm nhận của chính mình đối với các mối "đe doạ" xảy ra cho bản thân. Cảm xúc này có thể che mờ ý thức và làm giảm khả năng ra quyết định. Khi đó, chúng ta thường phản ứng với mọi thứ xung quanh như thể chúng ta không có lựa chọn nào khác.

Thiền có xu hướng làm chúng ta thay đổi những gì mình nghĩ về sự ổn định tinh thần - ví dụ như sự lo lắng hoặc sự tức giận. Những người tham gia nhận ra rằng cảm xúc là những sự kiện nảy sinh trong tâm lý như bong bóng dưới đáy nồi nước sôi. Nhà khoa học thần kinh Richard Davidson thuộc Đại học Wisconsin tại Madison cho biết: “Họ học cách để nhận biết được cảm xúc của mình, làm cho nó dễ qua đi hơn”.

Với các kết quả nghiên cứu về sự hội tụ phi thường của trạng thái nội tâm và sự hiểu biết mới về truyền thống tâm linh cổ xưa, Jon Kabat-Zinn, nhà sáng lập phòng khám tiên phong về Giảm thiểu căng thẳng tại Trung tâm y tế Đại học Massachusetts đã cho biết, “Thiền trong Phật giáo đang dẫn đến sự mở rộng khoa học về ý nghĩa của con người”.

MƯỜI TRIỆU NGƯỜI MỸ KHÔNG THỂ SAI HẾT ĐƯỢC

10 triệu người Mỹ nói rằng họ đã thực hành vài kiểu ngồi thiền. Trong đó, Phật giáo là truyền thống tâm linh duy nhất mang điểm nhấn về tâm lý học. Nội dung chính của nó là khuyến khích người tham gia hãy trút bỏ những muộn phiền và khám phá những niềm vui. Khái niệm về việc tự cải thiện là “bhavana”, một từ Tiếng Phạn thường được dịch là “ngồi thiền”, dù nó có nghĩa gốc là “nuôi dưỡng”. Wallace cho biết “nó ý nghĩa chính xác giống như khi chúng ta nói “nuôi dưỡng một mảnh vườn,””.

Quan niệm căn bản của phương tây cho rằng các trạng thái của tâm trí như sự tập trung, lòng tốt và hạnh phúc có thể được phát triển thông qua việc tập luyện. Ngoài việc phát triển “tâm lý tích cực”, nhiều nhà lãnh đạo trong thực tế đã bị ảnh hưởng khá lớn bởi Phật giáo, các nhà khoa học phương Tây vẫn hướng tới chủ yếu là việc chữa trị những căn bệnh tâm thần, hơn là việc cải thiện tốt hơn cuộc sống đời thường. Gợi lại mục tiêu khiêm tốn của Freud’s: để biến nỗi khổ đau điên loạn thành sự bất hạnh thông thường. Khoa học phương Tây hài lòng khi tin rằng mỗi cá nhân chúng ta đều có ít nhiều những điểm xác định di truyền về việc hạnh phúc - và đó là niềm vui và yêu thương xảy ra đối với chúng ta.

Đức Phật ​định hình vạn vật theo những cách rất khác nhau. Ông ​từng ​dạy rằng ​khả năng vốn có của chúng ta là sự chịu đựng, nhưng chỉ vì sự thiếu hiểu biết​ mà chúng ta đánh mất nó. ​Chúng ta có thể vượt lên ​bản thân mình bằng​ việc học cách​ ​xoa dịu tâm trí​. ​Vậy nên, Thiền Định không đơn thuần là thư giãn và đối phó với căng thẳng, như quan niệm phổ biến​ về Thiền Định của Phật Giáo, mà còn rèn luyện bản thân một cách nghiêm khắc để từ bỏ thói quen ​tinh thần xấu.​ Không chỉ dừng lại ở đây,​ Thiền Định còn trở thành một công cụ ​giúp chúng ta​ ​hiểu hơn về ​tâm trí ​v​à​ có khả năng​ thay đổi thế giới quan của bạn. ​Cuối cùng, bạn sẽ ​không phải thay đổi suy nghĩ quá nhiều mà chỉ là cải thiện khả năng ​tự kiểm soát bản thân mình.

Matthieu Richard, một nhà sư, nhà khoa học và là thông dịch viên tiếng pháp cho Dalai Lama giải thích rằng: “Bạn hãy dừng việc nhìn ra bên ngoài mà thay vào đó, hãy bắt đầu nhìn vào bên trong của bản thân và xem cách tâm trí bạn làm việc, và bạn sẽ thay đổi ý nghĩ, từng suy nghĩ một”. “Các nhà trí thức Pháp không thích điều này. Họ nói ‘hãy để nó diễn ra; đam mê là vẻ đẹp của cuộc sống.’ Họ nghĩ rằng sự nỗ lực không phải là điều tốt đẹp - một thứ  kỷ luật ngớ ngẩn - và đó là lý do tại sao chúng ta là một mớ hỗn độn. Nhưng nhiều người hiện nay cũng đã hiểu được tác động của việc nỗ lực luyện tập thiền để trở nên mạnh khỏe gắn với việc rèn luyện thể chất. Do đó ý tưởng phát triển các kỹ năng tinh thần thông qua thiền đang dần có cơ sở vững chắc.

SỰ ĐỒNG THUẬN TỪ LĨNH VỰC KHOA HỌC THẦN KINH

Sự khuyến khích cho cách suy nghĩ mới đến từ một đồng minh khác thường. Khoa học về thần kinh đang cung cấp những bằng chứng vững chắc cho việc bộ não dẻo như “nhựa”, có khả năng tự tổ chức suốt đời với mỗi trải nghiệm mới. Nhà tâm lý học từ Đại học UCLA, Daniel Siegel giải thích: “Bây giờ chúng ta biết rằng việc cắt bỏ sợi thần kinh có thể dẫn đến sự thay đổi trong các liên kết thần kinh, và kinh nghiệm dẫn đến thay đổi trong việc loại bỏ sợi thần kinh,”. Bộ não của các nghệ sĩ violin thực sự thay đổi ngay khi họ hoàn chỉnh kỹ năng của họ. Cũng như bộ não của những tài xế ở London, sinh kế của họ phụ thuộc vào độ sắc bén của của trí nhớ. Tương tự như vậy, thông qua việc tập luyện lặp đi lặp lại về việc tập trung chú ý, các thiền giả có thể tăng cường các liên kết thần kinh liên quan tới việc kiểm soát sự chú ý không chủ đích.

Một Lạt ma Tây Tạng từng nói với Wallace rằng trước khi tập luyện, tâm trí của ông ta giống như một con nai với những chiếc gạt lớn cố gắng đi qua một khu rừng rậm rạp; con vật bị vướng nhiều lần trên những cành cây. Nhưng sau nhiều năm tập luyện, tâm trí của ông ta đã giống như con khỉ trong rừng, đung đưa thoải mái, tùy thích từ cành này sang cành khác.

Như kỹ năng thiền định của Lance Armstrongs, Davidson - người tiên phong về việc khám phá bộ não của các nhà sư cũng đã cung cấp các bằng chứng chưa rõ ràng rằng những cảm xúc như yêu và đam mê là những kỹ năng thực tế và có thể được đào tạo đến một mức độ nhất định. Các nghiên cứu cũng cho thấy không nhất thiết phải có đời sống như một nhà sư; thậm chí các buổi thiền định thường xuyên cũng mang lại nhiều lợi ích lớn. Niềm tin vào Phật giáo là rất cần thiết. Ricard cho rằng: “Tôi tin rằng bạn có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong cuộc sống nếu bạn bắt đầu với chỉ 30 phút tập luyện mỗi ngày”. “Bằng cách duy trì tập luyện, kèm theo một chút hiểu biết, từng chút một đến khi bạn “đổ đầy lọ.”

Một nghiên cứu gần đây ở bệnh viện Massachusetts General cho thấy 40 phút thiền hằng ngày dường như làm dày phần vỏ não liên quan đến sự chú ý và xử lý giác quan. Trong một nghiên cứu thí điểm ở Đại học Califonia, San Francsico, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng các giáo viên được đào tạo về các kỹ năng của Phật giáo, những người ngồi thiền chưa tới 30 phút mỗi ngày đã cải thiện được tâm trạng của họ nhiều như cách họ uống thuốc chống trầm cảm.

Có rất nhiều dạng thiền định, và tất cả đều có thể  sử dụng trong việc phát triển một số kỹ năng tinh thần. Điều này tập trung vào các bài tập thực hành để giải quyết các vấn đề cảm xúc thông thường. Thông qua các kỹ năng thiền định cơ bản, bạn có thể phát triển việc tập trung lâu hơn, sự ổn định cảm xúc, thấu hiểu cảm xúc của những người khác và giải phóng bản thân khỏi những giới hạn mà bạn đã đặt vào niềm hạnh phúc của bản thân mình.

SỰ CHÚ Ý: ỔN ĐỊNH VỀ TÂM TRÍ

Máy tính, báo chí, các trò chơi điện tử, những cuộc gọi điện tiếp thị, những dòng e-mail dồn dập không ngừng — tất cả đều thu hút sự chú ý của ta đến từng việc nhỏ nhặt nhất. Cuộc sống hiện đại làm công việc nhiều hơn, gây xao lãng chúng ta nhiều hơn. Nhưng có lẽ vấn đề không nằm ở chiếc điện thoại mà là ở bản thân mình. Sau tất cả, chúng ta luôn là người đưa ra quyết định về việc cần chú ý cái nào và bỏ qua việc gì.

Vấn đề là, hầu hết chúng ta đều đưa ra những lựa chọn này một cách tự nhiên. Chúng ta thậm chí không cố gắng để kiểm soát sự chú ý của bản thân, có lẽ vì chúng ta không biết làm như thế nào. Những người đạo Phật khẳng định rằng năng lực có thể được kết tinh thông qua việc tập luyện thiền định. Tâm trí là một thứ tự nhiên bất ổn định, vốn đã bị phân tâm, và thiền định là một cách để ổn định nó.

Kabat-Zinn nói rằng “Thiền định là về sự chú ý”. Nâng cao sự tập trung không chỉ là ổn định và làm rõ tâm trí, nó cũng có thể cải thiện sự sáng tạo và năng suất trong khi tăng cường các mối quan hệ. Hãy tưởng tượng nếu như bạn có thể tập trung 100 phần trăm đến người bạn đời của mình.

Chiến lược bắt đầu khi bạn ở trên con đường chánh niệm, bồi dưỡng nhận thức việc không phán xét và nhìn sâu vào bên trong của mọi vật. Một cách tiếp cận phổ biến là tập trung vào vật gì đó hoặc là cảm nhận hơi thở của bạn, lưu ý mỗi lần hít vào và thở ra, và nhẫn nại đưa sự chú ý của mình vào mỗi nhịp thở.

Clifford Saron, một nhà thần kinh học ở Trung tâm trí tuệ và não bộ Đại học California ở Davis cho rằng: “Bạn luyện tập việc tập trung vào một đối tượng”. “Bạn bắt đầu quan sát sự lưu thông của nhận thức trong từng khoảnh khắc. Với sự luyện tập này, bạn có thể phát hiện ra những mô thức bên trong những biến động đó.”

Nó giống như bạn co thắt cơ bắp bên trong bộ não. Davidson ở Đại học Wisconsin tranh luận rằng bài tập tinh thần của thiền định đã củng cố và ổn định mạng lưới thần kinh ở vỏ não trước trán trung gian — trung tâm điều khiển não bộ, liên quan tới việc điều chỉnh sự chú ý. Anh ta nói thêm: “Mọi người không nhận ra rằng có rất nhiều tính dẻo dai trong bộ não”, “nhiều hơn những gì chúng ta nghĩ trước đây” – ông bổ sung.

Sự nỗ lực trong luyện tập là sự cân bằng nhận thức giữa sự chán chường và phân tâm. Để làm được như vậy, bạn cần phải tự giám sát bản thân mình, điều này được các nhà tâm lý học gọi là siêu nhận thức: nhận thức của nhận thức. Điều đó cho phép bạn biết khi nào, ở một mặt, bạn bắt đầu lãng quên và cần sự thu hút mới. Và mặt khác, bạn bị phân tâm và cần phải lấy lại sự chú ý của bạn mình. Khi bạn dần dần điều chỉnh sự tập trung của bản thân, bạn nhận thấy sự hổn loạn trong thói quen suy nghĩ của mình và dần dần có được sự bình tĩnh. Kabat-Zinn nói rằng: “Nhận thức đan xen trong dòng suy nghĩ, bởi vì bạn có thể nhận thức được ý nghĩ của bản thân bạn.”

Trong cuốn sách của ông, The Attention Revolution: Unlocking the Power of the Focused Mind (tạm dịch: Cuộc cách mạng của sự chú ý: Mở khóa sức mạnh tập trung của tâm trí), Wallace miêu tả một chương trình với 9 tầng để đạt được sự tịnh tâm, một bước của Phật Giáo gọi là shamatha (được phát âm là sha-ma-ta). Như một nhà sư đã nói, sự chú ý trở thành “ngọn đèn dầu không bị lung lay trước gió; dù ở nơi nào nhận thức được hướng đến, nó đều đứng vững.”

Ngay cả trong số những người mới, các nghiên cứu cho thấy, một buổi thiền định ngắn có thể hiệu quả hơn một giấc ngủ về việc cải thiện hiệu suất trong các bài kiểm tra, về sự tập trung. Nhưng lợi ích của nó không dừng ở đó. Thiền định hoàn toàn có thể chuyển đổi được cảm xúc.

THANH TỊNH: NHẬN RA ĐỐM LỬA TRƯỚC KHI CHÁY

Những cảm xúc của chúng ra ẩn chứa những phần tiêu cực trong cảm xúc thoáng qua của bộ não. Những cảm giác hành hạ chúng ta mà không cần tới sự trải nghiệm. Davidson giải thích rằng: “cảm xúc không có thật”.

Sự lo lắng thường là những kẻ thù tồi tệ của chính bản thân ta, làm tê liệt tâm trí của ta, làm cho chúng ta không nhìn thấy và phản ứng một cách rõ ràng. Nói theo cách khác thì chúng làm giảm tuổi thọ của chúng ta. Những cảm xúc tiêu cực rất là sầu thảm, các nghiên cứu cho thấy nhiều người trên thế giới chấp nhận thà chọn cách chịu đựng nổi đau thể xác nặng nề như bị giật bởi điện áp cao hơn là phải chịu những cảm xúc tiêu cực.

Tuy nhiên, mọi người thường tự làm lớn nổi khổ đau về tinh thần của mình, điều mà nhà thần kinh học ở Stanford, Robert Sapolsky gọi là “ nỗi đau khổ xoay vòng, nỗi đau của những gì đã xảy ra, sẽ xảy ra, có thể xảy ra hoặc của một người nào đó đang trải qua.”. Sapolsky đã chỉ ra rằng theo thời gian, sự hỗ trợ càng nhiều của tâm trí đau khổ có thể làm tổn hại đến các phần của não liên quan đến việc học, việc ghi nhớ cũng như hệ thống miễn dịch.

Nhiều thập kỷ trước các nghiên cứu của Sapolky’s, nhà tâm lý học tiên phong Albert Ellis đã đưa ra ý tưởng rằng những cảm xúc đau đớn nảy sinh nhiều từ lòng tin hơn là đến từ thực tại: sự cô đơn có thể dẫn tới nỗi đau khổ. Ngày nay, các nhà trị liệu về nhận thức - hành vi, gồm cả “ông già” Ellis, khuyên các bệnh nhân nên giải tỏa cảm xúc bằng cách thay đổi góc nhìn trong cách suy nghĩ của họ, thách thức niềm tin tưởng và thử những khả năng mới.

Thiền định Phật giáo cũng giải quyết vấn đề tương tự nhưng có một chút khác biệt. Nó thay đổi mối quan hệ của bạn với cảm xúc nhiều hơn là chính các cảm xúc đó. Nó cho phép bạn nhìn thấy những chuyển biến của tâm trạng từng lúc một để bạn có thể điều hướng chúng. Kabat-Zinn nói rằng: “bạn trở nên như bầu trời trong xanh hơn là cơn bão mù mịt”, bạn có thể tránh được xu hướng phán xét của tâm trí hoặc hành động bốc đồng.

Cách tiếp cận này có vẻ hiệu quả. Trong nghiên cứu của nhà tâm lý học Zindel Segal ở Đại học Toronto, thiền định thực sự thành công trong việc ngăn chặn chứng bệnh trầm cảm của bệnh nhân có tiền sử rối loạn định kỳ.

Thiền định trở thành một loại “bảng điều khiển cho cảm xúc của bản thân”, Wallace cho biết. Nó cho phép bạn kiểm tra một “đồng hồ đo lường” và quyết định một cách khách quan nếu như bạn quá “nhiệt”, cho nên bạn sẽ không bị bất ngờ nếu như hơi nước bắt đầu bốc lên từ động cơ. Từ “động cơ”, trong trường hợp này, được gọi là hệ viền hoặc là cảm xúc não bộ - thứ được kết nối với thùy trán trước. Thông qua các hành động của nó ở thùy trán trước, thiền định có thể giảm sự kích thích cảm xúc ở thùy trán trước, đưa nó vào chế độ báo động bởi nỗi lo hay sự tức giận.

Có lẽ tôi đã nhận ra rằng, sự thôi thúc khiến tôi la mắng con trai mình khi cậu bé gọi 911 là việc vô ích. Tuy nhiên, việc này rõ ràng là khó để đạt được. Đối với hầu hết chúng ta, thời gian trôi qua giữa sự khiêu khích, sự thúc đẩy và hành động ngắn hơn một nhịp tim - chỉ ¼ giây từ sự bắt đầu đến phản ứng của hạch hạnh nhân, hoặc là trung tâm của sự sợ hãi. Trong 1 phần của giây đó, cảm xúc có thời gian để tràn vào sự phán xét của chúng ta - và chúng rất hay làm vậy.

Tuy nhiên, thiền định hứa hẹn rằng sẽ phá đi chuỗi di truyền này bằng cách cho phép chúng ta nhận ra “đốm lửa trước ngọn lửa”. Thông qua nhiều giờ đồng hồ lặng lẽ quan sát sự chuyên chế của cảm xúc, bạn dần dần quen được với sự tĩnh lặng trong tâm trí - phần mà một ngày nào đó sẽ không được chọn để “hành hạ”. Ricard nói rằng “Bạn trở nên quen thuộc với cách nảy sinh cảm xúc, cách để chúng vừa có thể chiếm hữu tâm trí hoặc biến mất mà không gây bất kì tổn hại gì.”

SỰ SO SÁNH: NHƯ CƯỠI MỘT CON NGỰA

Thiền định là một quá trình phát triển mối quan hệ với trạng thái trong tâm trí của mình. Seigel ở UCLA cho biết: “Chánh niệm là một dạng của sự cảm thông”, làm nó trở thành một công cụ hoàn hảo cho sự hài hòa giữa các cá thể - nói một cách khác, đó là lòng trắc ẩn. Seigel chú thích: “khả năng nhìn thấy tâm trí của bản thân, cho phép bạn nhìn thấy tâm trí của người khác.”

Mọi phụ huynh của một thiếu niên đều biết, lòng trắc ẩn có thể là một việc khó. Nó cần nhiều nỗ lực để gợi lên những cảm xúc ấm áp cho một ai đó đang gầm gừ với bạn trong khi đang xin tiền. Một số cha mẹ thấy bản thân họ phải tự giở trò với tâm trí của mình, như là ép buộc bản thân phải nhớ con họ vẫn còn là một đứa bé đáng yêu.

Trong thiền định, các Phật tử đã làm một cái gì đó tương tự. Ricard khẳng định: “bạn chỉ cần làm một việc lặp đi lặp lại, nó không quá phức tạp”. Hãy tưởng một người mà bạn yêu, mong muốn họ được hạnh phúc và từ từ chuyển cảm xúc đó đến những người khác. Điều này nên bao gồm cả những người bạn nghĩ là kẻ thù.

Bước tiếp theo là mở rộng cảm giác từ bi đó với tất cả mọi người, mọi vật, để cảm xúc đó “lớn lên và xâm chiếm vào tâm trí của bạn để cho mỗi tế bào bên trong bạn là lòng nhân từ, thương hại và lòng nhân ái,” Ricard chia sẻ. “Bạn để điều đó ngày càng kéo dài và ngày ngày trở thành một phần trong tâm trí của bạn, và cứ làm đi làm lại. Thực chất, nó ngày càng dễ hơn, nhanh hơn và vững chắc hơn cho thời gian còn lại, không những chỉ khi bạn đang thiền. Nó giống như việc cưỡi ngựa vậy. Lúc đầu, bạn phải cẩn trọng để không bị té, nhưng chẳng lâu sau, bạn thậm chí quên rằng là mình đang cưỡi ngựa.”

Về mặt thần kinh học, chúng ta có vẻ gắn kết với sự đồng cảm. Trong vài năm qua, các nhà khoa học đã tìm ra bộ não con người có hệ thống nơ-ron gương, được kích hoạt khi chúng ta thực hiện một hành động và khi chúng ta quan sát hành động của người khác, bao gồm biểu hiện trên khuôn mặt đau khổ hoặc hạnh phúc. Sự kích hoạt này cho phép chúng ta không chỉ suy xét cảm xúc người khác mà còn chia sẻ những cảm xúc đó.

Các nhà khoa học mới chỉ bắt đầu vẽ bản đồ của các vùng não liên quan tới những cảm xúc tích cực như là sự đồng cảm. Nhưng khi Davidson quan sát Ricard thiền về lòng trắc ẩn trong khi kết nối với máy cảm biến EEG, anh ấy tìm thấy sự gia tăng đáng chú ý của tia gamma ở vùng não trái, một trung khu của cảm xúc hạnh phúc. Những phát hiện này cung cấp cho khoa học các bằng chứng ủng hộ những gì mà Dalai Lama thường nói: một người thiền về lòng trắc ẩn cho người khác trở thành người hưởng thụ đầu tiên.

Lòng trắc ẩn cho người khác xuất phát từ “căn nhà” của mình. Đức Phật đã nói:”một người yêu bản thân mình sẽ không bao giờ hại người khác”. Tập luyện thiền định một cách đúng đắn là thể hiện lòng từ bi cho bản thân, vì nó liên quan tới công sức về thời gian và nổ lực để cải thiện niềm hạnh phúc của bản thân. Những kiến thức được góp nhặt qua sự tập luyện có thể dễ dàng cảm thấy lòng tốt đối với người khác; bằng các nhận thức về mức độ thường xuyên bạn bị dẫn dắt bởi cảm xúc, bạn có thể chậm rãi hơn trong việc trách móc một người nào đó về những sai sót tương tự, ít có xu hướng diễn giải hành động của họ  khi cho rằng đó là sự cố ý.

Lòng trắc ẩn cũng có thể giúp con người quản lý nỗi đau của bản thân, vì đó là một lời nhắc rằng những người khác cũng sống trong nỗi đau. Ricard cho biết: “sau tất cả, nỗi đau của chúng ta không cảm thấy bị áp bức, chúng ta ngừng việc hỏi những câu hỏi cay đắng, Tại sao lại là tôi?”. Sự liên hệ giữa lòng trắc ẩn cho người khác và cho bản thân có thể giải thích cho những bài nghiên cứu gần đây có liên quan tới lòng vị tha về sức khỏe và hạnh phúc.

NIỀM HẠNH PHÚC: SỰ XỨNG ĐÁNG CỦA BẠN

Từ khóa học được bán rất chạy với chủ đề tìm kiếm niềm vui của Harvard về “một cuộc sống sung túc và hưng thịnh”, niềm hạnh phúc là mục tiêu của đại đa số người Mỹ. Tất nhiên, có sự hạnh phúc liên tục. Hầu hết chúng ta đều đánh giá cao sự đa dạng của hạnh phúc: Những trải nghiệm của sự hài lòng, thường là, sự gom góp về vật chất và sự giàu có. Nhưng có một loại khác, gọi là niềm vui sướng dựa trên việc hiện thực hóa về mục đích và tiềm năng cá nhân. Ý tưởng này đã bắt nguồn từ Aristole đến Maslow rồi đến Sartre, song song với Phật Giáo.

Phật giáo khẳng định rằng niềm hạnh phúc lâu dài nhất là điều xứng đáng của bạn. Nhưng nó không đến từ việc sở hữu; nó đến từ việc giải phóng bản thân khỏi sự mù quáng của tinh thần và những cảm xúc phiền muộn. Một khi chúng ta có nó, Ricard nói, chúng ta có thể thấy thế giới mà không cần che đậy hay biến chuyển nó. “nó là niềm vui của việc hướng tới tự do nội tâm và lòng yêu thương lan tỏa cho những người khác”.

Phần khó khăn là: một trong những bức màn đó là ý tưởng về không chịu thay đổi bên trong bản thân, hoặc tâm hồn. Kabat-Zinn cho biết.

“Chúng ta tạo ra cho bản thân sự đau khổ bởi những chuỗi phức tạp trong việc tự nhìn nhận của mình”. “Bản ngã đều liên quan tới mọi thứ xung quanh. Một người nào đó va vào xe tôi. Tôi nói anh ta đã phá hỏng ngày của tôi.”

Chúng ta về cơ bản, phụ thuộc vào những người khác và môi trường xung quanh, Ricard đã chia sẻ trong cuốn sách mới của ông - Niềm hạnh phúc. Mỗi một khoảnh khắc giữa sinh và tử, cơ thể trải qua vô số biến đổi, với tâm trí là nhà hát với vô vàn cảm xúc và trải nghiệm. “Trải nghiệm” đây đơn giản là một luồng tinh thần. Tuy nhiên, chúng tôi gán chúng cho sự lâu dài, độc đáo và tự do cho bản thân. Như sự tự phụ và bản ngã từ cội nguồn của sự đau khổ.

Những người thiền định khám phá ra khi họ ngưng thực hiện những biến động cảm xúc của họ một cách nghiêm túc, họ thả trôi bản thân. Họ giải quyết thế giới một cách trực tiếp hơn. Sự hấp thụ, một trạng thái tương tự như “dòng chảy”, tăng lên. Kabat-Zinn quan sát cho thấy: “con người thèm khát sự trải nghiệm chân thực này,”.

Thúc giục những người tìm kiếm hạnh phúc không chỉ rũ bỏ bản ngã mà hiểu được bản chất vô định của chính bản ngã là một ý tưởng để lật đổ ở phương Tây, mặc dù một số nhà thần kinh học đã đi đến kết luận tương tự. Wolf Singer, giám đốc Viện Max Planck ở Frankurt, Đức, đã yêu cầu miêu tả bộ não như thiếu bất kì sự quyết định nào của “trung tâm kết hợp”. Nó như là một dàn nhạc mà không có nhạc trưởng.

Đó là một khả năng cực kỳ hy vọng rằng bộ não có thể thay đổi để tốt hơn - cụ thể là nhạy bén hơn, tốt hơn và vui hơn. Ricard có thể là lý lẽ tốt nhất của riêng mình. Nhiều người từng gặp ông ấy bị ấn tượng bởi cảm giác hạnh phúc mà dự án của ông ấy mang lại.

Đã hơn một năm sau cuộc gọi 911 đó - tôi đã bắt đầu ngồi thiền. Hiện tại tôi thi thoảng ngồi thiền cùng con trai, để không phải là một người nóng tính như xưa. Khi đó chúng tôi tập trung phát triển lòng trắc ẩn cho nhau và học cách sống bình tĩnh.

Như Kabat-Zinn nói: "Nhận thức mang cuộc sống của bạn trở lại. Bạn có thể quyết định phải làm gì với nó sau đó."
 

Nguồn bài viết gốc: https://www.psychologytoday.com/intl/articles/200609/mastering-your-own-mind

 
 

Bài viết này được chọn lọc, biên dịch, thiết kế và biên tập bởi một Nhóm IPLer của
Chương trình Lãnh đạo Khai phóng IPL khóa 5

Lê Nguyễn Trần Huỳnh
Nguyễn Hoàng Bảo Huy
Phạm Thị Quỳnh Mai
Huỳnh Diệp Mỹ Ngọc
Nguyễn Đình Quý
Trần Minh Dạ Thảo