Kết nối với chúng tôi

BÀI VIẾT

KHOA HỌC, ĐẠI HỌC VÀ LÝ TƯỞNG CHO TUỔI TRẺ (Phần 1)

Bạn đã sinh ra với tiềm năng.
Bạn đã sinh ra với tư chất tốt và lòng tin.
Bạn đã sinh ra với các lý tưởng và những giấc mơ.
Bạn đã sinh ra với sự vĩ đại.
Bạn đã sinh ra với đôi cánh.
Bạn sinh ra không phải để bò, nên đừng làm thế.
Bạn có cánh.
Hãy học sử dụng chúng và bay.
(Rumi)

Những vần thơ như thế của nhà thơ Ba tư Rumi thế kỷ thứ 13, người có ảnh hưởng lớn đến văn học Hồi giáo, những vần thơ như muốn nhắc nhở và đánh thức lại sự to lớn, giàu có vốn tiềm tàng trong mỗi con người chúng ta. Chúng ta cần lắm những lời nhắc nhở như thế trong thời đại tù mù những giá trị này.

Cái gì có thể giúp các bạn trẻ tạo nên đôi cánh? Đại học là một con đường, tuy chắc không phải con đường duy nhất, là nơi các bạn đang bước vào và theo đuổi việc học. Đại học có thểđem lại những giá trị nào? Charles William Eliot, chủ tịch của đại học Harvard, người biến Harvard từ một trường college tỉnh lẻ lên thành một đại học nghiên cứu ưu việt, trong một bài diễn văn năm 1876 (mừng chủ tịch đầu tiên Daniel C. Gilman của đại học Johns Hopkins) có phát biểu những lời sau đây về những giá trị mà đại học có thể mang lại:

“Sự vĩ đại đích thực của một quốc gia không nằm ở lãnh thổ, thu nhập, dân số, thương mại, hoa màu hay hàng chế biến, mà chính ở các giá trị tinh thần và phi vật chất; ở sự tinh khiết, sự dũng cảm và tính chính trực của dân tộc đó, ở thi ca, văn chương, khoa học và nghệ thuật mà dân tộc đó đã tạo ra, ở giá trị đạo đức của lịch sử và đời sống của họ. Đối với quốc gia, cũng như cá nhân, không có gì khác hơn là sự ưu việt đạo đức mới là bất biến và vĩnh cửu có lợi. Các đại học, được dìu dắt khôn ngoan, lưu trữ vốn trí thức của giống nòi, và trở thành những nguồn suối của sức mạnh tinh thần và đạo đức. Ở đây các bước chân trẻ, tránh xa những lối mòn bẩn thỉu của ham muốn thấp kém và tham vọng trần tục, có thể bước đi trong những dấu chân của những người quá cố lừng lẫy – những nhà thơ, nghệ sĩ, triết gia và chính khách của quá khứ; ở đây những mái đầu tươi rói có thể thám hiểm những vùng đất mới và tăng trưởng vốn tri thức lên; ở đây chốc chốc những con người vĩ đại có thể được đào tạo thành các nhà lãnh đạo dân tộc; ở đây ánh sáng soi sáng của thiên tài chốc chốc loé lên để làm hoan hỉ nhân loại; trên hết, ở đây nhiều thế hệ của thanh niên có thể học lấy sự chính trực." (Charles W. Eliot, 1876)

Thời điểm bài nói chuyện của Eliot chưa lâu lắm. Nó nằm trong giai đoạn phát triển đỉnh cao của đại học châu Âu,đang lan truyền và tạo sự chuyển biến có tính chất cách mạng đến Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và dần dần đến khắp thế giới.

KHOA HỌC
Ngày 4 tháng 7 vừa qua thế giới nhận được tin ‘hoả tốc’, rằng trung tâm nghiên cứu hạt nhân CERN ở biên giới Thuỵ Sĩ và Pháp đã cuối tùng tìm ra hạt Higgs. Cuộc săn lùng gần nửa thế kỷ đã thành công. Với cơ chế hạt Higgs, các hạt cơ bản tạo ra vật chất trở nên có khối lượng. Bạn hãy tưởng tượng, vũ trụ là cánh đồng bùn bất tận, và bạn đi trong đó. Bạn sẽ thấy có sức nặng dưới chân. Đó chính là bạn đã có khối lượng từ sự tương tác của bạn với cánh đồng bùn. Không có hạt Higgs, không có thế giới, trái đất, và cả chúng ta.

Cách đây hơn hơn 3 thế kỷ, Newton đã đề ra hai khái niệm quan trọng: khối lượng và lực hấp dẫn, mà không lý giải được chúng là gì và từ đâu mà có. Phải đợi đến năm 1915, tức sau hơn 200 năm, Einstein mới giải mã được lực hấp dẫn bằng thuyết tương đối rộng của mình, điều đó đã đem lại cho ông vinh quang tột đĩnh. Giờ đây khái niệm khối lượng cũng được giải mã luôn.
Đó là câu chuyện thời sự.

Nhưng khoa học không phải khám phá những định luật tận cùng của vũ trụ chỉ để hiểu biết thuần tuý về lý thuyết, mà có những đóng góp rất quyết định vào sự thay đổi căn bản bộ mặt xã hội thế giới. Không có các cuộc cách mạng khoa học, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp là những người anh em sinh đôi, khó hình dung được cuộc sống ngày nay của chúng ta với những phúc lợi và tiện nghi như iPhone, iPad, xe hơi có hệ thống định vị GPS…

Nhà khoa học C. P. Snow,tác giả của quyển sách Hai nền văn hoá phát biểu: Cuộc cách mạng khoa học là con đường duy nhất mà trên đó đa số con người có thể đạt đến những phúc lợi cơ bản (cuộc sống lâu, đầy đủ thực phẩm, con cái lành mạnh), những phúc lợi mà chúng ta nhận lấy một cách đương nhiên, nhưng lại là những phúc lợi trong thực tế chỉ được mang lại cho chúng ta chỉ vì cách đây không lâu chúng ta đã có cuộc cách mạng khoa học. Phần lớn con người đã hối hả lao vào cuộc cách mạng đó như cơ hội cho phép họ.

LỊCH SỬ KHOA HỌC

Khoa học mà chúng ta hôm nay học,được các sử gia xem bắt nguồn từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên với các nhà khoa học đầu tiên như Thales, Anaximander, Anaximanes của thành phố Miletos, Hy Lạp cổ. Ý tưởng vĩ đại của họ là thế giới có thể được hiểu bằng lý trí của con người, chỉ cần có óc tò mò, quan sát và không mê tín.Thế giới theo họ không phải là chỗ tụ tập của thần linh để tuỳ tiện hoạt động và điều khiển, mà thế giới vận hành theo một cơ chế phức tạp với những định luật vĩnh cửu nội tại như một cosmos. Những người Babylon, Ai cập biết nhiều về qui luật của các quỹ đạo tinh tú và hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, nhưng họ chỉ tin đó là những sự huyền bí tôn giáo và không quan tâm tìm những lời giải thích bằng khoa học. Thời kỳ Thales được gọi là thời Khai minh Ionia, với văn hoá khai phóng và khoa học phát triển mạnh mẽ, chế độ chính trị thông thoáng, xuất phát từ vùng có địa danh Ionia phía Đông Hy Lạp, ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ.

Thế kỷ thứ 6 cũng là thế kỷ chào đời của Phật Thích Ca, Lão tử và Khổng tử ở phương Đông. Đó là một sự trùng hợp rất thú vị.

Nhưng rồi khoa học phải chia tay dòng suối hoạt động trí thức vào thế kỷ thứ 3 TCN sau khi nó đã đi vào trung tâm sinh hoạt văn hoá của Hy Lạp, để rồi, sau Plato, Aristote dần dần nhường chỗ cho những quan tâm về đạo đức, tôn giáo và siêu hình. Đến thế kỷ thứ 6 SCN, hoàng đế Justinian của Đế chế Byzantin (La Mã phía Đông, thủ đô Constantinople, nay Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ) đóng cửa các trường triết học Athen vì những gì được dạy ở đó không phù hợp với tinh thần của Kitô giáo. Năm trước, nhà triết học La Mã quan trọng cuối cùng Boethius cũng bị xử tử (Quyển sách nổi tiếng của ông để lại: Sự an ủi của triết học, Consolation of Philophy, năm 524). Hai sự kiện trên kết thúc giai đoạn phát triển tri thức cổ đại. Học thuật Hy Lạp không còn được chú ý. Châu Âu bước vào giai đoạn lịch sử gọi là “Thời kỳ đen tối” (Dark Ages).

Mãi ngót 2.000 năm sau, tức thế kỷ thứ 17, khoa học mới bừng sáng lại, với Galilei, Kepler, Descartes và Newton. Thế kỷ 17 là khúc quanh quan trọng của nhân loại đánh dấu thời đại khoa học và tư duy con người được cởi trói khỏi các sợi dây trói buộc thời Trung cổ. Trước đó, như khúc dạo đầu, năm 1543 Copernicus đã xuất bản quyển sách “Về sự chuyển động quay của các thiên thể”, gọi tắt Chuyển động quay, cho rằng mặt trời mới là trung tâm và trái đất mới quay xung quanh nó, không phải ngược lại. Ông chỉ dám phổ biến quan điểm đó trước khi ông mất, vì sợ quyền lực nhà thờ. Vũ trụ, cosmos, là một phần quan trọng trong đức tin của Công giáo La Mã. Ai muốn thay đổi trật tự của nó không tránh khỏi bị trừng phạt.

Nhưng nửa thế kỷ sau quyển sách Chuyển động quay của Copernicus, Galilei, như một Columbus trên trời, dám tranh đấu quyết liệt cho thuyết Copernicus sau khi ông nhìn thấy chứng cứ trên trời qua viễn vọng kính tự tạo. Ông là người đầu tiên biết dùng viễn vọng kính để khám phá bầu trời, và là người nhìn thấy nhiều nhất, do đó cũng bức xúc nhất. Cuộc đấu tranh kéo dài 24 năm rất gian truân, với cao điểm là tác phẩm nổi tiếng Dialogue, Đối thoại, được xuất bản năm 1632, để rồi kết thúc ngay sau đó bằng bản án lịch sử của nhà thờ bắt ông thề bỏ tín điều và ông đã bị quản thúc cho đến chết.Trong tuyệt vọng, vào những năm cuối đời, ông còn kịp viết thêm tác phẩm lớn Discorci, (Nghị luận và Chứng minh toán học về Hai khoa học mới thuộc Cơ học và các Chuyển động), làm nền tảng của ngành vật lý hiện đại.

Galilei là một con người vĩ đại, đa tài đặc biệt. Những tác phẩm khoa học của ông đều là những án văn tuyệt tác có tính chất khai sáng tại bước ngoặc lịch sử của khoa học thế kỷ 17. Galilei tiếp nối tại Pisa, Padua, là những nơi ông đã từng hoạt động lâu năm, những gì Thales đã bắt đầu 2.000 năm trước tại Miletos.

Ngay sau bản án, các quyển sách cấm của ông Dialoguevà Discorsi, được phổ biến mạnh mẽ ở nước ngoài, truyền đi cảm hứng cho cộng đồng khoa học châu Âu và tín hiệu của sự bứt phá. Isaac Newton là một trong những người đã đọc chúng ở tuổi thanh niên. Khoa học bừng lên phát triển như sau cơn ngủ đông 2.000 năm tại các quốc gia phía bắc dãy núi Alps, đặc biệt tại Hà Lan, Anh, Pháp, Đức. Trung tâm học thuật, từ Hy Lạp chuyển qua Ý, giờ đây chuyển lên phía Bắc châu Âu. Cả 200 năm sau bản án Galilei, buồn thay nước Ý ‘không dám’ có nhân tài đáng kể nữa.

Năm 1687, nghĩa là 45 năm sau ngày mất của Galilei, tác phẩm vĩ đại Các nguyên lý toán học của triết học tự nhiên, gọi tắt là Principia của Newton ra đời, phát triển và khái quát hoá những khám phá của Galilei và Kepler thành khoa học hiện đại có giá trị phổ quát với sự chứng minh chặt chẻ toán học, mở ra một thời kỳ mới của khoa học không thể đảo ngược.

Khoa học hiện đại, cái mà chúng ta học ngày nay hình thành khá đầy đủ hình dạng vào thế kỷ 17, khi hai dòng thác “âm dương” hội tụ: đó là khoa học lý thuyết, episteme, và kỹ thuật ứng dụng, techne. Người thực hiện sựkết nối, tổng hợp của hai dòng thác này chính là Galilei, con người của cả lý thuyết lẫn thực hành.

Đặc điểm của xã hội phương Tây là không ngừng chuyển động. Các lực lượng sản xuất phát triển liên tục từ các thế kỷ 8,9 đến 15, 16 của thời Phục Hưng. Một lực lượng nghệ nhân, thủ công, tính toán, xây dựng đông đảo xuất hiện. Họ đều là những nghệ nhân đa năng, những người thực hành rất giỏi, tuy không được đào tạo qua trường lớp về lý thuyết. Hình tượng cao nhất của những con người đa năng đó là Leonardo da Vinci (1452-1519), một tài năng kiệt xuất.

Trong khi đó, khoa học dưới dạng kinh viện cũng không ngừng phát triển trong các đại học. Khoa học, triết học, y khoa, toán học của Hy Lạp cổ đại và Ả rập, thông qua cuộc dịch thuật vĩ đại thế kỷ 12 và 13, vẫn được tiếp tục phát triển trong đại học, tuy có phần bị che khuất bởi tấm vải giáo điều được tạo ra sai lầm từ triết học Aristote và kinh thánh. Nhưng sự kỳ diệu cuối cùng đã đến: sự hợp nhất của lý thuyết và thực hành, của hình ảnh học giả và người thợ thủ công để cho ra đời khoa học hiện đại. “Khoa học nối kết lý thuyết và thí nghiệm bắt đầu thật sự với công việc của Galilei” như Einstein & Infeld nói.

Joseph Needham, nhà Trung Hoa học lớn của thế kỷ 20 đặt câu hỏi tại sao hai dòng thác đó lại hội tụ tại phương Tây mà không phải tại phương Đông? Có nhiều cách lý giải. Joseph Needham tự trả lời một cách:“Mối quan tâm đến tự nhiên không đủ, thí nghiệm có kiểm soát không đủ, phép qui nạp, thực nghiệm không đủ, sự tiên đoán nhật thực nguyệt thực và tính toán lịch không đủ - tất cả những điều đó người Trung Hoa đã có; rõ ràng chỉ một nền văn hoá trọng thương (mercantile) mới có năng lực thực hiện được những gì mà một nền văn minh nông nghiệp quan liêu không làm được, tức là hợp nhất được những ngành trước đó bị chia cắt của toán học và nhận thức tự nhiên.”

Trước thế kỷ 16 các nền văn minh lớn của thế giới xem như gần gũi nhau, nhưng từ thế kỷ 17 trở đi châu Âu đã bứt đi một cách không đảo ngược được. Lịch sử đã phân kỳ với các hệ quả ghê gớm cho nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

ĐẠI HỌC
Đại học có tiền thân từ khoảng cuối thế kỷ 11 và 12 thời Trung cổ, gọi là universitas, tại cái nôi châu Âu. Sự ra đời của đại học Bologna, Paris,Oxford và Cambridge chấm dứt đêm dài của thời kỳ đen tối. Đó là sự chuyển động của học thuật ra khỏi tu viện để thâm nhập vào xã hội. Các tu sĩ tin rằng nó sẽ phát triển tốt hơn, rộng rãi hơn, phục vụ xã hội nhiều hơn. Học thuật bắt đầu lan toả xuyên quốc gia và phát triển mạnh.

Đại học Trung cổ đánh dấu sự ra đời của một tầng lớp trí thức độc lập, không lệ thuộc vào bộ máy quyền lực và bổng lộc, muốn có vai trò tích cực trong xã hội như những tác nhân, kẻ sáng tạo, không giống nhiều nền văn hoá khác mà ở đó sự sáng tạo đã bị trao về bộ máy cầm quyền hay cho thần linh, tôn giáo, con người không có vai trò gì đáng kể trong cuộc khám phá vĩ đại của nhân loại. Lịch sử của châu Âu là lịch sử của sự khẳng định con người, cá nhân với dấu ấn mạnh mẽ của nó, từ suối nguồn của văn minh Hy Lạp: “Các dân tộc khác làm ra thần thánh, vua chúa và ma quỷ. Chỉ có dân tộc Hy Lạp làm ra con người” (W. Jaeger), đặt con người vào vị trí trung tâm.

Nói đến đại học Trung cổ không thể không nói đến cuộc dịch thuật vĩ đại cùng thời kỳ để chuyển ngữ sang tiếng La tinh những tác phẩm kinh điển của các học giả Hy Lạp như Aristote, Euclid, Hippocrates, Galen, Ptolemy và của một số học giảẢ rập như Alhazen (Quang học), al-Khawarizmi (Đại số). Cuộc dịch thuật này ảnh hưởng quyết định đến đời sống trí thức châu Âu trong việc hình thành một thế giới quan đầy tính lý tính, lô gích, khoa học xem thế giới là một cỗ máy được tổ chức tinh vi nhưng có thể hiểu được, từcác hành tinhđến con người, động vật, vật chất vô sinh, thể hiệntiếp truyền thống của Khai minh Ionia.

Tại Trung Hoa, cùng lúc, phong trào học thuật sống dậy cũng vào thế kỷ 12, với chủ nghĩa Tân-Khổng giáo, Chu Hy, người tiêu chuẩn hoá các bộ sách Tứ thư, Ngũ kinh dùng cho các kỳ thi hoàng gia chọn nhân tài phục vụ bộ máy nhà nướcvà tồn tại cho đến thế kỷ 20. Nhưng nền học thuật Trung Hoa thiếu các hạt giống khoa học, triết học của Hy Lạp và phương Tây. Khổng giáo không quan tâm đến khoa học, chỉ quan tâm đến đạo đức và nhân văn.

Cuối thế kỷ 15, châu Âu hầu hết được bao phủ bởi một mạng lưới đại học đáng kể, ước tính có khoảng trên 80 đại học mà phần lớn vẫn còn tồn tại hôm nay. Anh quốc, ngoài Oxford, Cambridge có thêm các đại học Glasgow, St.Andrew, Aberdeen. Bắc Âu có Kopenhagen, Uppsala. Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha có rất nhiều đại học. Trong thời gian 1350-1500 có khoảng 750.000 người đã ghi danh, một con số rất ấn tượng trong thời bấy giờ.

Nhưng khi cuộc cách mạng khoa học thế kỷ 17diễn ra thì đại học chưa phải là cái nôi của khoa học, một sự“trớ trêu” của lịch sử! Khoa học mới, nảy mầm từ thực nghiệm,được tiến hành dưới dự bảo trợ của các mạnh thường quân, hay của các đại danh tại các lãnh địa, nhưng không diễn ra trong khuôn viên đại học.Vì sao? Bởi vì đại học lúc bấy giờ còn bị chiếm lĩnh bởi tinh thần kinh viện giáo điều và xem thường thực nghiệm (experiment). Muốn cho khoa học tiến vào đại học, châu Âu phải cần có một cuộc cách mạng tiếp nối. Đó là cuộc cách mạng của đại học Đức theo tinh thần của Wilhelm von Humboldt vào đầu thế kỷ 19.

ĐẠI HỌC HUMBOLDT
Nếu với sự ra đời của đại học Trung cổ, học thuật được thể chế hoá, tạo ra cái nhà của minh triết thì 6 thế kỷ sau, với sự ra đời của đại học Đức theo tinh thần Humboldt, khoa học được thể chế hoá rộng rãiở một cấp bậc cao. Thể chế hoá học thuật là đặc thù của châu Âu, mà các nền văn minh khác, như Islam hay Trung Hoa, tuy từng có những tiến bộ lớn hơn, nhưng lại không có.

Đại học Berlin, tức Đại học Humboldt sau này, được thành lập năm 1810, có thể được tóm tắt như sau: «Đó là một thể chế trong đó những người giảng dạy và người đi học qui tụ lại như những người nghiên cứu bình đẳng trong sự thống nhất của nghiên cứu và giảng dạy để truy tìm khoa học thuần túy trong sự cô đơn và tự do, và qua quá trình này đạt tới sự hoàn thiện về tinh thần và đạo đức.» (Werry) Hai cột trụ chính của các nguyên lý là nghiên cứu và tự do hàn lâm, bao hàm tự do dạy và tự do học. Khoa học trở thành hình thức của cuộc sống, triết lý sống (Wissenschaft als Lebensform) và là nồng cốt của giáo dục (Bildung durch Wissenschaft).

Với Wilhelm von Humboldt, đại học trở thành đại học của khoa học, văn hóa, của sự tự rèn luyện toàn diện nhân cách con người, do đó có mang tính đạo đức, nhân văn và là hạt giống trí tuệ của quốc gia. Đại học sẽ làm cho con người thành những chủ thể nhân văn, và thông qua họ, làm cho bộ máy nhà nước nhân văn và khai sáng. Đại học Berlin, cùng với cuộc cải cách giáo dục phổ thông của Humboldt, mang sứ mệnh làm chuyển đổi cả một nhà nước củ kỹ vừa bị quân đội của Napoleon đánh sập thành một nhà nước hiện đại để vực dậy đất nước, “lấy sức mạnh tinh thần để bù đắp những mất mát vật chất”. Humboldt là người đã nhìn thấy xa các yêu cầu tối thượng của cuộc canh tân đất nước, và Đại học Humboldt chính là đại học trồng người, và là nguồn nguyên khí quốc gia cho mục tiêu đó.

Đại học Berlin ra đời không phải từ ý tưởng của giới quản lý giáo dục, hay chính trị, mà từ những ý tưởng của giới văn chương và triết học duy tâm Đức. Một sự liên minh giữa triết học, khoa học và văn hoá diễn ra. Nhà triết học cũng là nhà khoa học và văn hoá. Nhà văn hoá cũng là nhà triết học và khoa học. Nhà khoa học cũng là nhà triết học và văn hoá. Tinh thần triết học và nhân văn này vẫn tiếp tục tồn tại lâu dài ở những nhà khoa học sau khi khoa học tự nhiên thực nghiệm đã thắng thế.

Đại học Humboldt đã khơi đúng mạch tri thức của thời đại tích tụ từ thời Kepler, Galilei, Descartes và Newton, và dần dần trở thành bà mẹ, alma mater, của đại học hiện đại thế giới. Bên kia bờ Đại tây dương, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của đại học Đức,nước Mỹ tiến hành cuộc cách mạng giáo dục đại học trong những năm của nửa sau thế kỷ 19, với những con người đã từng học tại các đại học Đức. Khoa học bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ và vũ bảo trên toàn thế giới.

TS. NGUYỄN XUÂN XANH

(Còn tiếp Phần 2)
Nguồn: Chúng ta
#OpenEduShare